...... ...

.

 

 

 

Đại Lễ Hiệp Kỵ Chư Lịch Đại Tổ Sư
(Về Nguồn 5) tổ chức tại Chùa Thiện Minh, Lyon, Pháp Quốc
từ ngày 8 đến ngày 11-09-2011

 



 

Đề tài tham luận 

Hành Trạng & Hạnh Nguyện
của Bồ Tát Thích Quảng Đức
 

 

Lui lại 48 năm về trước – năm 1963 - ngọn lửa Bồ Tát Thích Quảng Đức tự thiêu soi sáng bóng đêm lịch sử bị bưng bít bởi vô minh, lòng người tranh chấp, thù hiềm, nghi kỵ nhau về nhiều lẽ. Mặc dù tất cả cùng là người Việt với nhau, nhưng vì khác tôn giáo, chánh kiến của người lãnh đạo độc tài đã đưa đất nước Việt Nam tới bờ vực thẳm đen tối vô cùng tệ hại. Ngọn lửa Thích Quảng Đức cháy bừng lên nhằm:

-      Thiêu sạch những sự bất công gian ác của chế độ gia đình trị Ngô triều.

-      Đòi quyền bình đẳng giữa mọi người dân Việt, nhất là về tự do tôn giáo.

-      Báo động cho thế giới biết rằng tại Việt Nam, Phật giáo bị đàn áp khốc hại.

-       Kêu gọi các chính phủ của những quốc gia yêu chuộng tự do hòa bình trên thế giới đoàn kết để hổ trợ phong trào tranh đấu bất bạo động của Phật giáo Việt Nam. 

Qua tâm thư và 5 bài kệ thức tĩnh dặn dò nhà Ngô, bổn đạo, đệ tử, chư tăng và Phật giáo đồ toàn quốc của Ngài để lại, thể hiện tâm từ bi quảng đại của bậc Bồ Tát trong hạnh nguyện nhằm mục đích cứu độ chúng sanh. Vì sự an lạc, hạnh phúc của phần đông mà dấn thân vào cõi Ta Bà – kham nhẩn này – dù phải hy sinh thân mạng, nhưng với chí nguyện kiên cường, Bồ Tát đã chỉ lối dẫn đường cho Phật giáo và dân tộc Việt Nam thoát khỏi nạn độc tài kỳ thị tôn giáo. 

I – Sơ lược đôi nét về Ngài:  

Ngài thế danh là Lâm Văn Tuất, sanh năm 1897 tại làng Hội Khánh, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa; con ông Lâm Hữu Ứng và bà Nguyễn Thị Nương. Là đệ tử của thiền sư Như Đạt hiệu Hoằng Thâm, khai sơn chùa Thánh Kinh ( Ninh Hòa). Ngài được bổn sư cũng là cậu ruột cho pháp danh là Thị Thủy, pháp tự Hạnh Pháp, pháp hiệu Quảng Đức, thuộc dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Sau khi xuất gia năm lên 7 tuổi được Hòa Thượng bổn sư nhận làm con, và chánh thức đổi tên họ là Nguyễn Văn Khiết. 

Năm 15 tuổi, Ngài thọ giới Sa Di, năm 20 tuổi ( 1917) thọ giới Tỳ Kheo và Bồ Tát. Sau khi thọ giới, Ngài được giao phó vai trò Tri sự chùa Long Sơn – nơi Ngài Hoằng Thâm trụ trì - để đãi lao cho bổn sư tuổi đã già. Sau khi bổn sư viên tịch năm 1921, Ngài phát nguyện nhập thất ba năm ở núi Đất tại Ninh Hòa. Sau đó Ngài vân du đây đó theo hạnh đầu đà thời gian 2 năm; và lại quay về nhập thất nơi chùa Thiên Ân tại Ninh Hòa. Từ năm 1940 – 1945, Ngài trú trì tổ đình Linh Sơn, Khánh Hòa, Nha Trang. 

Năm 1948, Ngài vào Nam hóa độ khắp các tỉnh Sài gòn, Gia Định, Định Tường, Tây Ninh, Bà Rịa, Hà Tiên v.v…Có thời Ngài cũng đã sang Nam Vang ( Kampuchia) trong 3 năm ( 1954 – 1956) để giúp đỡ các Việt Kiều, vừa nghiên cứu kinh điển tiếng Pali. 

Năm 1953, Ngài được thỉnh cử chức vụ Phó Tri Sự và Trưởng Ban Nghi Lễ Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, đồng thời Trú Trì chùa Phước Hòa ở Bàn Cờ - trụ sở đầu tiên của Hội Phật Học Nam Việt. Sau khi Hội chính thức dời về chùa Xá Lợi ( 1958), Ngài từ chức Trụ Trì đến trụ chùa Quan Thế Âm ở Phú Nhuận – Gia Định cho tới ngày viên tịch. 

Năm 1963, phong trào tranh đấu của Phật giáo miền Nam đòi hỏi bình đẳng tôn giáo, Ngài tích cực tham gia. Chính sách kỳ thị tôn giáo và đàn áp Phật tử của Ngô Đình Diệm ngày một gia tăng mãnh liệt. Ngày 20/8/1963 chính quyền Ngô Đình Diệm theo kế hoạch nước lũ cho quân đội tấn công vào các chùa trong toàn quốc, như Xá Lợi, Ấn Quang ( Sàigòn), chùa Từ Đàm, Diệu Đế ( Huế), bắt tất cả tăng ni và giới lãnh đạo phong trào tranh đấu đem giam giữ nhiều nơi tại Sàigòn và các tỉnh. Do tầm ảnh hưởng sâu rộng việc tự thiêu của Bồ Tát và chư Thánh tử đạo như ngòi nổ làm tiêu vong chế độ độc tài, bất công để cúng dường chư Phật và bảo vệ đạo pháp.  

Ngày 20 tháng 4 năm Quí Mão nhằm ngày 11/06/1963, cuộc diễn hành rước di ảnh các thánh tử đạo của trên 800 chư Tăng Ni và Phật tử từ chùa Phật Bửu đến chùa Xá Lợi. Khi đoàn diễn hành tới ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt, Ngài từ trên xe bước xuống, tự tay tẩm xăng thấm ướt mấy lớp áo cà sa, ngồi kiết già ngay ngắn trên mặt đường, tự châm lửa giữa quần chúng Tăng Ni và Phật tử đang vây quanh chấp tay cầu nguyện. Ngọn lửa càng bốc cao, tiếng niệm Phật đọc kinh càng lớn, khói đen phủ kín thân mình, Ngài vẫn an nhiên chấp tay thiền tọa. Độ 15 phút sau, lửa tàn và Ngài ngã xuống, trong lúc tay vẫn còn quyết ấn tam muội.  

Nhục thân của Ngài được rước về quàn tại chùa Xá Lợi, đến ngày 20/06/1963, Ủy Ban Liên Phái bảo vệ Phật giáo, cùng Tăng Ni và Phật tử tổ chức lễ rước đưa về An Dưỡng Địa để cử hành lễ trà tỳ. Sau khi hỏa thiêu, các phần xương thịt đều cháy hết chỉ trái tim Ngài vẫn còn nguyên, đem thiêu lại lần thứ hai vẫn không cháy.  

Bồ Tát mặc dù không còn nữa, nhưng trái tim bất diệt của Ngài vẫn còn và 31 ngôi chùa do Ngài thành lập, từ miền Trung tới miền Nam vẫn tồn tại, nói lên công hạnh hoằng pháp lợi sanh của bậc xuất trần thượng sĩ.  

II – Chí nguyện xuất trần:  

Một thiếu niên mới lên 7 tuổi mà đã rời gia đình, xa khỏi vòng tay chăm sóc của mẹ hiền; Bồ Tát Quảng Đức được cha mẹ cho cậu ruột mình là thiền sư Hoằng Thâm nuôi dạy, và xuất gia với pháp danh là Thị Thủy, tự là Hạnh Pháp và hiệu là Quảng Đức. 

Sau khi bổn sư viên tịch (1921), Ngài phát nguyện nhập thất tu hạnh đầu đà ba năm. Đây là hạnh tu kham nhẫn hiếm người làm được, thế mà một thanh niên như Ngài đã cô thân lặn lội vào núi sâu tìm hang động tu hành để dứt hết mọi duyên với đời thường. Mục đích của việc mạo hiểm vô cùng khó khăn đó không ngoài tìm cầu giải thoát. Vì Ngài đã thấy rõ đời vô thường qua sự vắng bóng của bổn sư, rồi đây một ngày kia sẽ tới lượt mình là điều không thể tránh khỏi. Nhưng sau khi tịnh tu 3 năm, Ngài không dừng lại ở đó mà tiếp tục cuộc đời vân thủy trong 2 năm. Thời gian Ngài lưu lại chùa Thiên Ân ở Ninh Hòa, là vào khoảng năm 1927 cho đến năm 1934 vẫn giữ hạnh tu nhập thất như đã từng theo đuổi từ trước. Như ta được biết vào năm 1935, Ngài được thỉnh cử giữ chức Kiểm Tăng cho tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa. Trong thời gian tu tập và hành đạo tại miền Trung từ 20 năm, Ngài đã kiến tạo và trùng tu tất cả là 14 ngôi chùa. Cũng như từ khi dấu chân Ngài lưu lại miền Nam trong khoảng thời gian ít hơn (15 năm từ 1948 – 1963), Ngài đã thành lập và trùng tu cả thảy là 17 chùa lớn nhỏ vẫn còn tồn tại cho đến nay. Di tích cuối cùng của Ngài là chùa Quán Thế Âm tại Gia Định mà ngày nay đã trở thành trung tâm tu tập quan trọng của Tăng Ni và Phật tử trải qua nhiều thế hệ.  

 Ngài tu các hạnh như nhẫn nhục ( tu hạnh đầu đà trong nhiều năm), hy hiến công sức, tài trí ( kiến tạo và trùng tu cả thảy 31 ngôi chùa), hòa hợp giữa tăng già và Phật tử ( Kiểm tăng, Phó Trị Sự, Trưởng ban Nghi Lễ), và hy sinh thân mạng ( tự thiêu năm 1963), để cùng Giáo Hội Phật giáo tranh đấu cho 5 nguyện vọng chính đáng của Phật giáo thành công trong công cuộc giải trừ pháp nạn vào ngày cách mạng tháng 11 năm 1963, như sử liệu ghi rõ. 

Cho nên chí nguyện của Bồ Tát là chí kim cương mới đủ sức phấn đấu với nội ma, ngoại chướng đến từ nhiều phía. Một người đầy hùng tâm dũng chí qua cuộc đời hành đạo của Ngài cho ta rút tỉa được nhiều bài học.

-                  Nhẫn nhục chịu đựng thà hy sinh để phát huy đạo pháp.

-                  Uyển chuyển khéo léo trong sự tu tập, cách hành xử để được lòng mọi người, Ngài vẫn kiên trinh thiết thạch như lửa thử vàng.

-                  Phương tiện tùy cơ hành hoạt có lúc ở nơi quê nhà có khi ở nơi xa xôi cô tịch trên núi ngàn thanh vắng. Không cứ ở nơi chôn nhau cắt rốn mới làm Phật sự được mà tại khắp mọi nơi như Sàigòn, Gia Định, lục tỉnh, hoặc xa hơn nữa như Nam Vang…vẫn thiết lập được đạo tràng hoằng dương Phật Pháp.

-                   Lòng từ bi trải rộng, không phân biệt đối xử giữa kẻ oán người thân như qua bức tâm thư nêu rõ ý hướng và nguyện vọng của Ngài bằng lời khẳng quyết: “ Tôi pháp danh Thích Quảng Đức, Trụ Trì chùa Quán Thế Âm, Phú Nhuận – Gia Định nhận thấy Phật giáo nước nhà đang lúc nghiêng ngửa, tôi là một tu sĩ mệnh danh là Trưởng tử của Như Lai không lẽ cứ ngồi điềm nhiên tọa thị để cho Phật giáo tiêu vong, nên tôi vui lòng phát nguyện thiêu thân giả tạm này cúng dường chư Phật hồi hướng công đức bảo tồn Phật giáo…”. Ngài cầu Phật Tổ gia hộ cho ông Ngô Đình Diệm sáng suốt giải quyết 5 nguyện vọng chánh đáng của Phật giáo Việt Nam. Cuối cùng, trong tâm lượng Bồ Tát trước giờ châm lửa tự thiêu, Ngài ân cần nhắn nhủ:  

“ Trước khi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng kính gởi lời cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm nên lấy lòng bác ái từ bi đối với quốc dân và thi hành chánh sách bình đẳng tôn giáo để giữ vững nước nhà muôn thuở”. 

Chí nguyện Ngài được nuôi lớn bởi giòng dõi gia tộc, nhất là bên ngoại người cậu là em ruột mẹ Ngài, tức thiền sư Như Đạt - Giải Nghĩa - Hoằng Thâm, người dốc lòng phụng sự Tam Bảo, tiếp tăng độ chúng để phát huy Phật pháp. Hòa Thượng Hoằng Thâm ( 1856 – 1921) là đệ tử Hòa Thượng Chơn Quang (1862 – 1939), chính là sư tổ của Bồ Tát Quảng Đức. Hòa Thượng Thiên Quang có viễn kiến xa nhìn về tương lai của Phật giáo nên đã tích cực hoằng pháp, bồi dưỡng nhân tài, tạo được kinh tế tự túc cho chùa có nguồn lợi tức, đào tạo các đệ tử xuất gia mà “về sau đủ khả năng và đức độ để giáo dưỡng và tác thành nên Bồ Tát Quảng Đức” ( lời của giáo sư Lê Mạnh Thát). 

Ảnh hưởng gián tiếp của sư Tổ và trực tiếp từ bổn sư, Bồ Tát đã lập chí từ lúc đồng chơn nhập đạo, sớm được bổn sư giao phó công việc Tri Sự ( năm 20 tuổi) trông coi chúng lý của chùa Long Sơn, tức là công việc quản lý kinh tế của chùa, từ việc ăn uống hằng ngày của tăng chúng, cho đến việc tu bổ sửa sang, xây chùa và ngay cả những ngày giỗ kỵ. Nhờ được giáo huấn trong môi trường thích hợp của sơn môn đã un đúc nên Bồ Tát Quảng Đức, một nhân vật lịch sử cho Phật giáo Việt Nam cận đại.  

III – Bài học cho hậu thế:  

Vào thập niên 30 của tiền bán thế kỷ thứ hai mươi, thế giới đi hết từ ngạc nhiên này đến thán phục khác, cuối cùng đã không tiếc lời ca tụng nhân vật tài ba làm nên lịch sử: Thánh Cam Địa – Gandhi - chủ trương tranh đấu bất bạo động giành lại độc lập, quyền tự chủ cho Ấn Độ từ tay chính quyền thực dân Anh năm 1949. Ngài Mahatan Gandhi được thế giới biết đến như là một bậc vĩ nhân, dấn thân hy sinh tranh đấu kiên trì với chủ trương bất hợp tác, bất bạo động, sau cùng đạt đến thành công trong vinh quang, đã làm cho thế giới vô cùng thán phục sức đề kháng quyết liệt của toàn dân tộc Ấn Độ mà vãn hồi được nền hòa bình, tự trị cho xứ sở.  

Sự tranh đấu trường kỳ của Thánh Gandhi bất chấp ngục tù, tòa án và ngay cả cái chết để đổi lấy sự sống còn của dân tộc, sự vẹn toàn của lãnh thổ, quyết theo đuổi đường lối bất bạo động cho tới hơi thở cuối cùng; và rồi chính quyền Anh đã phải nhượng bộ cho quốc gia Ấn Độ tự trị, trước sự ngưỡng mộ của các dân tộc bị trị nói riêng và cho toàn thế giới nói chung. 

Tại Việt Nam vào thập niên 60 của hậu bán thế kỷ thứ hai mươi, lại một lần nữa thế giới bàng hoàng xúc động và tỏ lòng bái phục sự tự thiêu dũng cảm của Bồ Tát Thích Quảng Đức như là vị Thánh tăng Bồ Tát, bảo vệ Phật giáo khỏi bị đàn áp bức hại dưới chế độ độc tài gia đình trị Ngô triều. 

 Cuộc tranh đấu chính nghĩa oai hùng của Phật giáo, làm cho dân chúng trong và ngoài nước có nhiều dư luận phê phán và ca ngợi:  

1)       …Cuộc tranh đấu của Phật giáo năm 1963, hầu hết tất cả các nước trên thế giới, từ nước nhược tiểu cho đến các nước đại cường quốc như Mỹ, Anh, Pháp, Nga,Tàu, Ấn Độ v.v…đều ủng hộ.

2)       Tinh thần dũng cảm của Bồ Tát Quảng Đức, chư Thánh tử đạo, toàn thể Tăng Ni và đồng bào Phật tử hy sinh tranh đấu để “ bảo vệ Đạo pháp và Dân tộc Việt Nam” đã viết lên một trang sử vẻ vang, oai hùng, vô tiền khoáng hậu.

3)       Cuộc tranh đấu của Phật giáo năm1963 làm cho thế giới rúng động và kính nể chí khí anh dũng, quật cường, bất khuất của Dân tộc Việt Nam nói chung, Phật giáo Việt Nam nói riêng”. ( 50 năm Chấn hưng Phật giáo VN – Hòa Thượng Thích Thiện Hoa). 

Bài học lịch sử này cứ mãi tái diễn ở bất cứ nơi đâu có bất công, độc tài…là có phát động phong trào tranh đấu đòi quyền tự do căn bản của dân tộc hay đạo giáo mà những nhân vật hy sinh biểu tượng cao cả một truyền thống hào hùng bất khuất của cả một quốc gia. Dĩ nhiên, trên thế giới không hiếm những gương hy sinh cá nhân cho quyền lợi của dân tộc và đạo giáo như của Thánh Gandhi và của Bồ Tát Quảng Đức trong hơn nửa thế kỷ vừa qua. 

Những chế độ độc tài, phi dân tộc…không thể nào tồn tại lâu dài được, vì nó trái với lòng dân, đi ngược bản chất con người vốn yêu chuộng tự do, hòa bình và công lý, không những đối với dân tộc Việt Nam mà hầu như mọi quốc gia trên thế giới đều có điểm chung này. 

Tự do tín ngưỡng – tôn giáo – là một bộ phận của toàn dân tộc, nhà cầm quyền độc tài toàn trị cố tình đàn áp, bức chế một tôn giáo nào mà họ thấy có dấu hiệu cản trở ngăn chặn tánh cách bất lương của chế độ. Tôn giáo bị lâm nạn đó vì nhiều yếu tố chưa thể đứng lên vận động đủ sức mạnh toàn dân khai tử chế độ ở giai đoạn này, nhưng ở một thời điểm thuận lợi khác họ sẽ kết hợp thành một sức mạnh tẩy sạch tàn tích của bất công gian ác như lịch sử VN năm 1963, của Ấn Độ năm 1949, của Pháp năm 1789, của Nhật Bản năm 1868, và của nhiều quốc gia trên thế giới như lịch sử đã chứng minh.  

Chúng ta nên lấy đó làm bài học soi sáng cho việc cầm vận mệnh đất nước,  thu phục nhân tâm, công bằng xã hội, bình đẳng tôn giáo để đem lại phú cường hạnh phúc, hòa hài cho mọi tôn giáo trong xứ sở nói riêng, cũng như biết tôn trọng bốn quyền căn bản của người dân như tự do cư trú, ngôn luận, lập các Hiệp Hội và tôn giáo nói chung, là chế độ đó được toàn dân ủng hộ, hợp lực và hy sinh lúc cần để bảo vệ sự vẹn toàn của đất nước. 

IV Các văn kiện quan trọng:

 Theo như nhà nghiên cứu Phật học Trí Siêu – Lê Mạnh Thát cho biết, ông đã thực hiện cuộc điều tra điền giả năm 2005 và thu thập được một số tư liệu liên hệ đến hoạt động Phật giáo của Bồ Tát Quảng Đức trong nửa đầu thế kỷ 20 tại quận Vạn Ninh, cùng tổ đình Long Sơn, nơi Bồ Tát Quảng Đức xuất gia; tổ đình Linh Sơn, nơi Bồ Tát làm Trụ Trì từ năm 1940 – 1945. Tất cả gồm có 35 văn kiện như sau:  

1)       14 văn kiện về Bồ Tát Quảng Đức liên quan việc xin phép chính quyền địa phương khánh thành chùa Thiên Ân do Ngài lập tại Vạn Ninh, xin sắc tứ chùa Thiên Ân. Văn kiện thứ 3 phát động quyên tiền để trùng tu tổ đình Linh Sơn, do Hòa Thượng Quảng Đức thực hiện, đã được sự hưởng ứng nhiệt tình của Tăng Ni và Phật tử trong danh sách đọc thấy lên đến 125 người, với số tiền kẻ ít người nhiều đã được một số ngân khoản khả dĩ tiến hành việc trùng tu chùa. Văn kiện số 4 liệt kê các đồ pháp bảo và tự khí, vật hạng của tổ đình Linh Sơn, khi Hòa Thượng về Trú Trì vào năm 1940. Văn kiện số 5 là đơn của Hòa Thượng xin chính quyền huyện Vạn Ninh cho phép đem ruộng chùa của tổ đình Linh Sơn cho mướn để lấy tiền trùng tu chùa. Văn kiện số 6 tái kêu gọi đóng góp tiền trùng tu tổ đình Linh Sơn đợt hai, đã có 100 vị hảo tâm hỷ cúng trong danh sách. Văn kiện số 7, Phật tử địa phương xin phép quan huyện Vạn Ninh dựng lại chùa Bảo Sơn dưới sự chứng minh của Hòa Thượng Quảng Đức ( 1941). Văn kiện số 8, Hòa Thượng mời chư sơn thiền đức và Phật tử tham dự lễ đón bằng sắc tứ của chùa Linh Sơn ( 1942). Các văn kiện số 9 và 10 Ngài kêu gọi đóng góp tiền để trùng tu chánh điện tổ đình Linh Sơn; văn kiện số 11 liên hệ đất đai của chùa Linh Sơn được mở rộng thêm. Văn kiện số 12 xin chính quyền VNCH duyệt xét tái cấp bằng khoán đất của chùa Thiên Ân đã bị mất năm 1948. Hội đồng duyệt xét ký ngày 1 tháng 10 năm 1960 về 3 sở đất chùa Thiên Ân để trình lên quận trưởng quận Ninh Hòa quyết định. Văn kiện số 13 và 14, quận trưởng quận Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa chấp thuận cấp bằng khoán đất cho ông tự trưởng, chùa Thiên Ân và phán quyết của tòa án Khánh Hòa về quyền sở hữu của chùa.  

2)       Mười văn kiện về tổ Hoằng Thâm:

 10 văn kiện liên hệ đến quê quán, thân thế và hoạt động Phật sự của bổn sư Bồ Tát Quảng Đức, là thiền sư Như Đạt - Giải Nghĩa - Hoằng Thâm. Được biết thiền sư phát nguyện xuất gia dù có muộn, lớn hơn vị bổn sư là thiền sư Chơn Hương - Huyền Túc – Thiên Quang 6 tuổi, và viên tịch trước thầy mình 18 năm vào năm Tân Dậu 1921; còn Ngài Thiên Quang viên tịch năm 1939. 

Sau khi xuất gia, tu tập và thọ giới với bổn sư tại chùa Linh Sơn, Hòa Thượng Hoằng Thâm đã đến làng Phú Cang ở tại chùa Long Hòa một thời gian, trước khi khai sơn chùa Thánh Kinh năm 1898 tại xã Phú Cang, Vạn Ninh.Tiến xa hơn Ngài mua đất lập tự điền để duy trì ngôi Tam Bảo được lâu dài. Đến năm 1902 khi Ngài được mời làm Trú trì chùa cổ Long Sơn thì vì để thống nhất đất ruộng tài sản, pháp khí của hai chùa cho việc quản lý được dễ dàng, thiền sư đã cho sáp nhập toàn bộ đất đai, tài sản, pháp khí của chùa Thánh Kinh vào chùa Long Sơn; đồng thời xóa tên chùa Thánh Kinh do chính mình lập. Trong số các văn kiện ấy, đáng chú ý nhất là văn kiện ngày 12/12/1908, thiền sư cúng đất cho 3 chùa Long Sơn, tổ đình Linh Sơn và chùa Long Hòa ( nơi Ngài Trụ Trì). Văn bản có đoạn viết:… Đạt ( Pháp danh Như Đạt) không tiếc những gì mình có, chỉ muốn dùng đem để trả ơn. Đạt xin đem những pháp khí, tự sản cùng tự điền của Đạt ( 16 mẫu) đưa vào chùa cổ tích Long Sơn để tiện về một mối. Còn ba mẫu thì xin dâng cúng cho chùa Linh Sơn của bổn sư để biểu nghĩa thầy trò, ba mẫu còn lại thì đem dâng cúng cho chùa Long Hòa nơi mình tu để đáp lại ơn đất nước”. ( Lê Mạnh Thát sưu khảo và dịch chữ Hán). Đặc biệt văn kiện viết ngày 12/09/1921, trước khi viên tịch 10 ngày, thiền sư đã nói rõ việc xây dựng chùa Long Sơn đã hoàn tất với chánh điện ba gian, 2 chái, cùng với Đông đường Tây đường và nhà bếp đều lợp ngói khang trang và đã trở thành ngôi già lam thắng cảnh. 

Việc phụng cúng 22 mẫu đất do mình tạo mãi cho ba chùa như đã nêu trên, chứng tỏ tâm nguyện phụng sự Tam Bảo của Thiền sư vô cùng rộng lớn. Ngoài ra thiền sư còn giáo dưỡng được một số đệ tử xứng đáng như Ngài Thị Thanh – Vô Vi, Thị Hớn - Hạnh An…kế thừa Trú Trì chùa Long Sơn; Thị Cảnh - Hạnh Phước - Huệ Minh ( anh ruột Ngài Quảng Đức) Trú Trì chùa Pháp Hải tại Ninh Hòa; đặc biệt là Ngài Thị Thủy tức Bồ Tát Quảng Đức, Trú Trì chùa Linh Sơn. 

Mười văn kiện liên hệ đến tổ Hoằng Thâm do giáo sư Lê Mạnh Thát phát hiện gần đây (2005) có một giá trị lịch sử nhất định. Là những văn kiện xác thực cho các nhà nghiên cứu Phật giáo Việt Nam vào tiền bán thế kỷ 20 có thêm tài liệu làm bằng, nhất là Phật giáo tại Khánh Hòa. Và cũng nhờ đó mà ta có thể biết rõ hơn hệ truyền thừa pháp phái, Thầy Tổ của Bồ Tát Quảng Đức ở hậu bán thế kỷ 20.  

Nói một cách khác, 35 văn kiện mà nhà sử học Phật giáo Trí Siêu – Lê Mạnh Thát công bố trong cuộc hội thảo mang chủ đề “ Bồ Tát Quảng Đức vị pháp thiêu thân” tháng 5 năm 2005, không những có giá trị lịch sử mà còn là những văn bản cụ thể chứa đựng nội dung phong phú về các bậc Thầy Tổ, đặt nền tảng vững chắc cho các thế hệ kế thừa. Đó chính là những chứng tích xác thực hay là những khế ước mua cúng ruộng đất, các pháp bảo, pháp khí và tài sản vào chùa Long Sơn, Linh Sơn và Long Hòa. Nhờ những văn kiện liên hệ đến thiền sư Như Đạt - Giải Nghĩa - Hoằng Thâm cho chúng ta một số thông tin quí giá về cuộc đời Ngài cũng như sinh hoạt Phật giáo tại Trung Việt – vùng Phú Khánh, Ninh Hòa ở cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, là vị bổn sư dưỡng thành Bồ Tát Quảng Đức sau này. 

3)       11 văn kiện liên hệ đến tổ đình Linh Sơn và thiền sư Chơn Hương - Huyền Túc – Thiên Quang, là sư Tổ của Bồ Tát Quảng Đức, và là thầy của thiền sư Như Đạt - Giải Nghĩa - Hoằng Thâm. 

Theo hệ truyền thừa của dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh qua bài kệ phú pháp của Tổ Minh Hải, khai sơn tổ đình Chúc Thánh - Hội An, Quảng Nam như:

            Minh thiệt pháp toàn chương

            Ứng chơn như thị đồng

            Chúc Thánh thọ thiên cửu

            Kỳ quốc tộ địa trường.

            Đắc chánh luật vi tông

            Tổ đạo giải hạnh thông

            Giác hoa Bồ đề thọ

            Sung mãn nhân thiên trung.  

Căn cứ theo bài kệ truyền pháp trên, Tổ Chơn Hương đời thứ 40, thế hệ thứ 7, thiền sư Như Đạt đời thứ 41, thế hệ thứ 8, Bồ Tát Thị Thủy - Hạnh Pháp - Quảng Đức đời thứ 42 thế hệ thứ 9. Cứ mỗi chữ trong bài kệ là một đời truyền pháp, Tổ sư Minh Hải đời thứ 34 thế hệ thứ nhất. Đệ tử của Tổ có pháp danh chữ Thiệt đời thứ 35, thế hệ thứ hai; chữ Pháp thế hệ thứ ba…đến chữ CHƠN ( Chơn Hương) sư Tổ của Bồ Tát Quảng Đức, chữ NHƯ ( Như Đạt) sư phụ của Bồ Tát, và Ngài Quảng Đức ( Thị Thủy), theo hệ truyền thừa nhất quán từ trên xuống theo pháp hệ thiền Lâm Tế từ sơ tổ Ca Diếp. 

V - Ngọn đuốc thiêng – Thánh tử đạo: 

Ngọn lửa tự thiêu của Bồ Tát Quảng Đức ngày 11/06/1963 như mãi rực sáng tới mai sau. Ngay hôm ấy, chính tác giả có mặt trong đoàn Tăng Ni Phật tử tuần hành từ chùa Phật Bửu về chùa Xá Lợi, nên chứng kiến sự kiện từ đầu đến cuối. Thật không còn ngôn từ nào để diễn tả hết tâm trạng cảm xúc dâng lên lúc bấy giờ hay ngay cả ngày nay sau gần nửa thế kỷ đối với cuộc tự thiêu mang tính lịch sử của bậc Thánh tử đạo. 

Trong một bài kệ, chính Bồ Tát Quảng Đức phát tâm nguyện:  

“Đệ tử hôm nay tự đốt mình

Làm đèn soi sáng nẻo vô minh

Khói thơm cảnh tỉnh bao người ác

Tro trắng phẳng san hố bất bình

Thân cháy nát tan ra tro trắng

Thần thức nương về giúp sinh linh

Hởi ai mộng ảo đang còn mộng

Hãy gấp tỉnh đi kẻo giật mình.

( 8 tháng 4 Nhuần Quý Mão 1963) 

Việc làm nào rồi cũng có hai mặt, tích cực và tiêu cực mà chúng ta bắt buộc phải chấp nhận trong cuộc đời tương đối này. Miễn dung hòa được cả hai để có thể xây dựng và tự tồn. Trong khi thế giới không tiếc lời tán dương việc tự thiêu hùng lực của Bồ Tát như thế, cũng có một thiểu số, vì quyền lợi, phe phái dùng những lời thâm độc chỉ trích bản thân Bồ Tát và Phật giáo một cách thậm tệ, ở đây tưởng không cần nhắc lại mà chỉ để lịch sử phán xét. Và hẳn nhiên, những người khác tôn giáo thấy mất thế dựa chính quyền đã có những thái độ bày tỏ hung hăng bất kính đối với sự hy sinh cao cả của Bồ Tát. Thế nhưng, sự thật diễn ra trước công luận,  việc chính nghĩa không thế nào bưng bít được. Mặc dù chính phủ ông Diệm cố ra sức vùng vẫy khỏa lấp cho qua bằng cuộc tấn công nước lũ vào những ngôi chùa chính tại Sàigòn và các tỉnh của Phật giáo để qua mặt công luận, nhất là Liên Hiệp Quốc. Cuối cùng công lý đã thắng bạo tàn, 5 nguyện vọng chính đáng của Phật giáo dù chưa được nhà đương quyền đáp ứng đúng mức, nhưng tầm quan trọng qua cuộc tự thiêu của Bồ Tát Quảng Đức đã đạt được những lợi ích:  

1)   Ủy Ban Liên Bộ của chính quyền chịu ngồi lại cùng làm việc song hành với Ủy Ban Liên Phái của Phật giáo để giải quyết những vụ đàn áp, bắt bớ…Phật tử một cách phi pháp. Điều quan trọng là Đạo Dụ số 10 năm 1959 đã được bãi bỏ. Đạo Dụ này do Pháp lập ra nhằm ngăn cấm các tôn giáo tại miền Nam - Việt Nam sinh hoạt tự do, ngoại trừ đạo Thiên Chúa.

2)   “ Sự hy sinh của Bồ Tát Thích Quảng Đức đã có một tác động rất lớn đối với phong trào đấu tranh vì chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Ký ức về Ngài đã ăn sâu vào lòng của người Phật tử. Ngài đã trở thành một vị Bồ Tát của Phật giáo Việt Nam” ( Về Bồ Tát Thích Quảng Đức – Thích Gia Quang).

3)   ... “ Ngài không vì lợi ích hay danh tiếng cá nhân mà vì lòng từ bi muốn cứu độ chúng sanh, muốn Phật tử Việt Nam được sống trong môi trường bình đẳng và tự do tôn giáo, không bị kỳ thị, không bị ép buộc bỏ đạo, cũng như muốn cho thế giới thức tỉnh trước cuộc chiến tương tàn ngày càng trở nên khốc liệt” ( Bồ Tát Quảng Đức vị pháp thiêu thân của tác giả Tâm Diệu).

4)   Ngọn lửa tự thiêu của Bồ Tát Quảng Đức như bức thông điệp gởi cho toàn thể nhân loại. Nói như tác giả Tâm Diệu, thông điệp về sức mạnh nội tâm, vượt hẳn sức mạnh của mọi thứ vũ khí, tiền bạc và quyền lực. Con người vũ trang bằng khoa học và công nghệ cao, tưởng có thể chinh phục, làm chủ thiên nhiên và vũ trụ, nhưng kết quả là nó không làm chủ được bản thân nó, còn thiên nhiên thì cũng quật lại nó với những đòn kinh khủng mà các thảm họa xảy ra nhiều nơi trên thế giới là một thí dụ điển hình.

5)   Việc hy hiến thân mạng của Bồ Tát Quảng Đức không những chỉ vì Phật giáo mà vì sự tự do tôn giáo, bình đẳng xã hội cho toàn dân Việt Nam phải sống dưới chế độ bất công, kỳ thị và thù hận của gia đình trị nhà Ngô. Ngài thay cho tiếng nói bé bỏng của người dân thấp cổ bé miệng triệt tiêu độc tài tham vọng để soi sáng lương tâm con người thời đại biết quay về với lẽ phải, công lý. 

VI - Thử nêu lên một vài đề nghị:  

Người ta lấy làm khó hiểu là không biết tại sao Phật giáo không coi trọng biến cố trọng đại cuộc tự thiêu của Bồ Tát Quảng Đức để trở thành ngày đại lễ kỷ niệm chư Thánh tử đạo? Các nhà lãnh đạo Phật giáo có quan tâm tới vấn đề? Nếu có lễ kỷ niệm sao không được công bố cho quần chúng Phật tử biết? Theo tôi, lễ tưởng niệm Bồ Tát Quảng Đức tại các chùa mang hiệu Ngài hay các chi nhánh trực thuộc hệ truyền thừa như đã có, cũng chưa nói lên được hết ý nghĩa một cách đúng mức.  

·     Phải có một ngày lễ chung tưởng niệm Bồ Tát Quảng Đức và chư Thánh tử đạo, chẳng hạn như lễ cử hành nhằm ngày tự thiêu của Ngài vào 20/04 âm lịch hay ngày 11/06 dương lịch, phải vận động quần chúng Phật tử tham gia rộng rải để biểu tỏ lòng thành đối với sự hy sinh cao quí của các Ngài cho PGVN được sống còn.

·     Có người khởi xướng, nhẫn nại chịu khó vận động sao cho lễ hội trở thành truyền thống lâu dài của Phật giáo.

·     Tránh lợi dụng danh nghĩa lễ tưởng niệm cho mục đích tuyên truyền đường lối bất công, phi nhân bản của chế độ đương quyền.  

Vốn biết rằng đề nghị như thế là khó thực hiện trong hoàn cảnh hôm nay đối với Phật giáo Việt Nam. Tại quốc nội, Cộng sản không ưa gì Phật giáo, nếu có chỉ qua họ muốn dựa thế quần chúng Phật tử, lợi dụng công lao trí tuệ của Phật giáo để tuyên truyền tung hô chế độ độc tài đảng trị, thì làm sao mời gọi được toàn thể Phật giáo đồ đứng ra làm công việc hữu ích có tính cách lịch sử. Còn như ở hải ngoại, khối Phật giáo đã bị phân năm xẻ bảy, lấy ai đại diện đủ tầm vóc kết hợp được ngày lễ thiêng liêng? 

Nhìn hướng tích cực tuy có đó, nhưng rất yếu ớt nếu phải tiến hành tổ chức lễ chắc cũng không được lâu dài và cũng chẳng đi tới đâu do nhiều yếu tố ngoại tại cũng không dễ dàng, vẫn biết đó là một Phật sự cần được đặc biệt quan tâm. Còn theo hướng tiêu cực ta cứ để mặc cho dòng thời gian cứ thế mà trôi. Cũng nhân qua tham luận này, chúng tôi mong đón nhận những chia xẻ đóng góp cụ thể từ chư tôn đức Tăng Ni, quí vị thiện hữu tri thức, cùng chư Phật tử hiện diện trong hội trường hôm nay, để làm sáng danh Bồ Tát Quảng Đức hơn nữa cho các thế hệ mai sau ý thức đúng mức được chân giá trị đem đạo vào đời, phục vụ nhân sinh mà vẫn luôn giữ được bản chất hòa nhi bất đồng của Phật giáo truyền thống.  

Trân trọng cám ơn quí vị đã dành thì giờ quí báu cùng về đây phó hội trong đạo tình Linh Sơn cốt nhục mà Đức Thế Tôn đã để lại cho chúng ta hôm nay. Sứ mạng tồi tà hiển chánh của hàng trưởng tử Như Lai chu toàn là báo đáp hồng ân Tam Bảo xứng đáng. Kính chúc quí Ngài pháp thể khinh an, đạo quả sớm viên thành, đồng kính chúc quý vị Bồ đề tâm kiên cố, tuệ giác sáng tỏ.  

Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát.

 

H.T Thích Bảo Lạc

trình bày trong ngày lễ Hiệp Kỵ chư lịch đại Tổ sư lần thứ 5

tại chùa Thiện Minh – Lyon – Pháp quốc 10/09/2011.

 

 
(xem tiếp hình buổi hội thảo)

 

 (cùng một tác giả)

 


 


Trở về Trang Lễ Hiệp Kỵ 2011


 

---o0o---

Cập nhật ngày: 09-03-2011

 

 


 

Về mục lục Lễ Hiệp Kỵ 2011